kimcokynhan’s weblog

“Ta cứ tưởng trần gian là cõi thật… Thế cho nên tất bật đến bây giờ !”

Kinh dịch

Đăng bởi kimcokynhan on 07/07/2008

Kinh Dịch là bộ sách kinh điển rất lâu đời của người Trung Hoa (hoặc Việt Nam) mà đến nay người ta vẫn chưa biết rõ nguồn gốc, tuy đã có truyền thuyết là nó có nguồn từ các dân tộc Bách Việt vào thời các vị vua thời Thần nông. Nó là một hệ thống tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại. Tư tưởng triết học cơ bản dựa trên cơ sở của sự cân bằng thông qua sự đối kháng và thay đổi (chuyển dịch).

Ban đầu, Kinh Dịch được coi là một hệ thống để bói toán, nhưng sau đó được phát triển theo bởi các nhà triết học Trung Hoa. Cho tới nay, Kinh dịch đã được bổ sung các nội dung nhằm diễn giải ý nghĩa cũng như truyền đạt các tư tưởng triết học cổ Trung Hoa và được coi là một tinh hoa của cổ học Trung hoa, nó được vận dụng vào rất nhiều lĩnh vực của cuộc sống như thiên văn, địa lý, quân sự, nhân mệnh v.v. (người ta gọi là diễn dịch).

Kinh (經 jīng) có nghĩa là một tác phẩm kinh điển, trong tiếng Hoa có gốc gác từ “quy tắc” hay “bền vững”, hàm ý rằng tác phẩm này miêu tả những quy luật tạo hóa không thay đổi theo thời gian.

Dịch (易 yì) có nghĩa là “thay đổi” hay “chuyển động”.

Khái niệm ẩn chứa sau tiêu đề này là rất sâu sắc. Nó có ba ý nghĩa cơ bản có quan hệ tương hỗ như sau:

Giản dị – thực chất của mọi thực thể. Quy luật nền tảng của mọi thực thể trong vũ trụ là hoàn toàn rõ ràng và đơn giản, không cần biết là biểu hiện của nó là khó hiểu hay phức tạp.

Biến dịch – hành vi của mọi thực thể. Mọi vật trong vũ trụ là liên tục thay đổi. Nhận thức được điều này con người có thể hiểu được tầm quan trọng của sự mềm dẻo trong cuộc sống và có thể trau dồi những giá trị đích thực để có thể xử sự trong những tình huống khác nhau.

Bất dịch – bản chất của thực thể. Mọi vật trong vũ trụ là luôn thay đổi, tuy nhiên trong những thay đổi đó luôn luôn tồn tại nguyên lý bền vững – quy luật trung tâm – là không đổi theo không gian và thời gian.

Tóm lại:

Vì biến dịch, cho nên có sự sống.
Vì bất dịch, cho nên có trật tự của sự sống.
Vì giản dị, nên con người có thể qui tụ mọi biến động sai biệt thành những quy luật để tổ chức đời sống xã hội.
Hay: Thiên hạ chi động, trinh phù nhất (Dịch Hệ từ hạ truyện).

Lịch sử ra đời

Kinh Dịch được cho là có nguồn gốc từ huyền thoại Phục Hy (伏羲 Fú Xī). Theo nghĩa này thì ông là một nhà văn hóa, một trong những người cai trị Trung Hoa sớm nhất (khoảng 2852-2738 TCN, theo huyền thoại), được cho người sáng tạo ra bát quái (八卦 bā gùa) là tổ hợp của ba hào. Vào thời gian vua Vũ (禹 Yǔ) nhà Hạ, bát quái đã phát triển thành quẻ, có tất cả sáu mươi tư quẻ (六十四卦 lìu shí­ sì gùa), được ghi chép lại trong kinh Liên Sơn (連山 Lián Shān) còn gọi là Liên Sơn Dịch. Liên Sơn, có nghĩa là “các dãy núi liên tiếp” trong tiếng Hoa, bắt đầu bằng quẻ Thuần Cấn (艮 gèn) (núi), với nội quái và ngoại quái đều là Cấn (tức hai ngọn núi liên tiếp nhau) hay là Tiên Thiên Bát Quái.

Sau khi nhà Hạ bị thay thế bởi nhà Thương, các quẻ sáu hào được suy diễn ra để tạo thành Quy Tàng (歸藏 Gūi Cáng; còn gọi là Quy Tàng Dịch), và quẻ Thuần Khôn (坤 kūn) trở thành quẻ đầu tiên. Trong Quy Tàng, đất (Khôn) được coi như là quẻ đầu tiên. Vào thời kỳ cuối của nhà Thương, vua Văn Vương nhà Chu diễn giải quẻ (gọi là thoán hay soán) và khám phá ra là quẻ Thuần Càn (乾 qián) (trời) biểu lộ sự ra đời của nhà Chu. Sau đó ông miêu tả lại các quẻ theo bản chất tự nhiên của chúng trong Thoán Từ (卦辭 guà cí) và quẻ Thuần Càn trở thành quẻ đầu tiên. Hậu Thiên Bát Quái ra đời.

Khi vua Vũ Vương nhà Chu (con vua Văn Vương) tiêu diệt nhà Thương, em ông là Chu Công Đán tạo ra Hào Từ (爻辭 yáo cí), để giải thích dễ hiểu hơn ý nghĩa của mỗi hào trong mỗi quẻ. Tính triết học của nó ảnh hưởng mạnh đến chính quyền và văn học thời nhà Chu (khoảng 1122-256 TCN).

Muộn hơn, trong thời kỳ Xuân Thu-Chiến Quốc (khoảng 722-481 TCN), Khổng Tử đã viết Thập Dực (十翼 shí yì), để chú giải Kinh Dịch. Vào thời Hán Vũ Đế (漢武帝 Hàn Wǔ Dì) của nhà Tây Hán (khoảng 200 TCN), Thập Dực được gọi là Dịch truyện (易傳 yì zhùan), và cùng với Kinh Dịch nó tạo thành Chu Dịch (周易 zhōu yì). Những đoạn thêm vào sau này của Chu Dịch chỉ đơn thuần là phần giải thích vì ý nghĩa của các quẻ Kinh Dịch quá thâm thúy.

Trong hơn 50 năm qua, lịch sử “hiện đại” của Kinh Dịch đã trỗi dậy, dựa trên cơ sở các phê phán và tìm kiếm bản khắc mai rùa thời Thương và Chu cũng như bản khắc trên đồ đồng thời Chu và các nguồn khác (xem dưới đây). Việc xây dựng lại nguồn gốc của Kinh Dịch này có quan hệ với một loạt các cuốn sách như The Mandate of Heaven: Hidden History in the I Ching của tác giả: S. J. Marshall và Zhouyi: The Book of Changes của Richard Rutt, (xem Tham khảo dưới đây). Các nghiên cứu khoa học có liên quan đến cách hiểu mới về Kinh Dịch bao gồm các luận án tiến sĩ của Richard Kunst và Edward Shaughnessy. Các công trình khoa học này được giúp đỡ rất nhiều bởi phát hiện trong những năm 1970 của các nhà khảo cổ học Trung Quốc về các ngôi mộ cổ còn gần như nguyên vẹn từ thời nhà Hán ở Mã Vương Đôi (馬王堆) gần Trường Sa, tỉnh Hồ Nam. Một trong các ngôi mộ chứa bản Kinh Dịch gần như còn hoàn hảo vào khoảng thế kỷ 2 TCN, Đạo Đức Kinh và các tác phẩm khác, nói chung rất giống với những bản còn tồn tại đến ngày nay tuy có một số sai biệt đáng kể.

Văn bản trong ngôi mộ cổ bao gồm cả những chú giải bổ sung của Kinh Dịch mà trước đây người ta không được biết và có vẻ như được viết ra (như người ta vẫn gán cho) bởi Khổng Tử. Mọi văn bản trong ngôi mộ ở Mã Vương Đôi là sớm hơn vài thế kỷ so với các bản sớm nhất được công nhận. Khi nói về sự tiến hóa của Kinh Dịch các nhà khoa học nghiêng về xu hướng hiện đại cho rằng đây là điều quan trọng để phân biệt giữa văn bản của Kinh Dịch truyền thống và văn bản giống như Kinh Dịch (mà theo họ là sai niên đại), nằm trong những chú giải được thần thánh hóa suốt hàng thế kỷ cùng với chủ thể của chúng, và các nghiên cứu lịch sử gần đây nhất còn nhận được hỗ trợ bởi các phê phán của các nhà ngôn ngữ học hiện đại và khảo cổ học. Nhiều người cho rằng các văn bản này không nhất thiết phải loại trừ lẫn nhau, nhưng nhiều nhà khoa học hiện đại nghi ngờ về sự tồn tại thật sự của Phục Hi cũng như cho rằng Khổng Tử không làm gì cho Kinh Dịch cả. Một số học giả khác cho rằng đồ hình của Kinh Dịch là sản phẩm của nền văn minh Thần Nông (ở phía nam sông Dương Tử) mà sau này người Hoa Hạ đã học tập và phát triển lên. Luận cứ của họ không phải là không có cơ sở khoa học khi mà một số tên quẻ cũng như diễn giải quẻ của người Trung Quốc từ xưa tới nay đôi khi còn rất mơ hồ.

Xem thêm bài Kinh Dịch, Sản phẩm sáng tạo của nền văn hiến Âu Lạc của Trần Quang Bình
http://vietsciences.free.fr/vietnam/vanhoa/kinhdich/1.htm

Cấu trúc

Các biểu tượng của Kinh Dịch là nằm trong tập hợp của 64 tổ hợp của các đường trừu tượng gọi là quẻ (卦 guà). Mỗi quẻ bao gồm 6 hào (爻 yáo) được biểu diễn dưới dạng các đoạn thẳng nằm ngang; mỗi hào này có thể là Dương (đường liền nét) hay Âm (đường đứt nét bao gồm hai đoạn thẳng cách nhau một khe nhỏ). Với sáu đoạn thẳng này được đặt lên nhau từ dưới lên trên trong mỗi quẻ suy ra có 26 hay 64 tổ hợp của hào và như vậy có 64 quẻ.

Mỗi quẻ được cho là tổ hợp của hai tập hợp con, mỗi tập con gồm ba đường gọi là quái (卦 guà). Như vậy có 23 hay 8 quái khác nhau.

Mỗi quẻ đại diện cho một trạng thái, tiến trình hay sự thay đổi có thể xảy ra. Khi quẻ được gieo bằng một trong những phương thức của bói toán bằng Kinh Dịch thì mỗi một đường (hào) có thể là tĩnh hoặc động. Hào động có thể có sự thay đổi từ Âm sang Dương hay ngược lại để tạo thành một quẻ khác, việc giải nghĩa của quẻ được gieo ban đầu dựa trên sự cân nhắc và xem xét các thay đổi đó.

Các phương pháp truyền thống để gieo quẻ sử dụng số ngẫu nhiên để sinh ra quẻ, vì thế 64 quẻ này là không đồng nhất xét về xác suất.

Có một số hình thức khác nhau sắp xếp quái và quẻ. Bát quái (八卦 bā gùa) là sự sắp xếp của các quái, thông thường là trên gương hoặc đĩa. Truyền thuyết cho rằng Phục Hi đã tìm thấy bát quái được viết trên mai rùa (Xem Hà Đồ). Kiểu sắp xếp tám quái dựa trên suy diễn này gọi là Tiên thiên bát quái.

Sự sắp xếp của vua Văn Vương được gọi là Hậu thiên bát quái. (Xem Lạc Thư)

Thành phần hợp thành của quẻ

Vạch liền là Dương, được coi là thành phần sáng tạo, tích cực. Vạch đứt là Âm, là thành phần tiếp thụ, thụ động. Mỗi một vạch (liền hoặc đứt) là một hào. Các thành phần này được biểu diễn trong một biểu tượng hình tròn chung (☯), được biết đến như Thái Cực đồ (☯) (太極圖 taijitu), nhưng nói chung người ta gọi tắt là đồ Âm-Dương (陰陽 yin-yang), miêu tả quan hệ giữa hai trạng thái của mọi thay đổi, chuyển dịch: khi Dương đạt tới cực đỉnh thì Âm bắt đầu phát sinh và ngược lại. Thái Cực đồ cũng là nguyên lý phát sinh Âm-Dương.

Vô Cực sinh Thái Cực
Thái Cực sinh Lưỡng Nghi
Lưỡng Nghi sinh Tứ tượng
Tứ Tượng sinh Bát Quái
Bát Quái biến hóa ra vô cùng

Trong đó:

Vô Cực tương đương trong Lão giáo là Vô Vi – có thể coi là hư vô; không có gì thuộc về vật chất, có thể tạm coi như trạng thái trước khi xảy ra vụ nổ lớn Big Bang trong khoa học phương Tây??

Thái Cực có thể tạm coi như trạng thái tại thời điểm xảy ra vụ nổ lớn Big Bang trong khoa học phương Tây

Lưỡng Nghi là hai thành phần Âm và Dương.

Tứ Tượng là Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm.

Trong danh sách sau, quái và quẻ được biểu diễn bằng cách sử dụng các quy ước thông thường trong soạn thảo văn bản theo chiều ngang từ trái qua phải, với ký hiệu ‘|’ cho Dương và ‘:’ cho Âm. Lưu ý rằng, biểu diễn trong thực tế của quái và quẻ là các đường theo chiều đứng từ thấp lên cao (có nghĩa là để hình dung ra quái hay quẻ trong thực tế, ta cần phải quay đoạn văn bản biểu diễn chúng ngược chiều kim đồng hồ một góc 90°).

Có tám quái hay bát quái (八卦 bāguà) tạo thành do tổ hợp chập ba của Âm và/hoặc Dương:

No Quái Tên Bản chất tự nhiên Ngũ hành Độ số theo Hà đồ, Lạc thư Hướng theo Tiên Thiên/Hậu Thiên Bát Quái

1 ||| (☰) Càn (乾 qián) Trời (天) dương kim 9 tây/nam
2 ||: (☱) Đoài (兌 duì) Đầm (hồ) (澤) âm kim 4 tây nam/đông nam
3 |:| (☲) Ly (離 lí) Hỏa (lửa) (火) dương hoả 7 nam/tây
4 |:: (☳) Chấn (震 zhèn) Sấm (雷) âm hoả 2 đông nam/tây nam
5 :|| (☴) Tốn (巽 xùn) Gió (風) âm thuỷ 6 tây bắc/tây bắc
6 :|: (☵) Khảm (坎 kǎn) Nước (水) dương thuỷ 1 bắc/bắc
7 ::| (☶) Cấn (艮 gèn) Núi (山) âm mộc 8 đông bắc/đông bắc
8 ::: (☷) Khôn (坤 kūn) Đất (地) dương mộc 3 đông/đông

Ba hào dưới của quẻ, được gọi là nội quái, được coi như xu hướng thay đổi bên trong. Ba hào trên của quẻ, được gọi là ngoại quái, được coi như xu hướng thay đổi bên ngoài (bề mặt). Sự thay đổi chung của quẻ là liên kết động của những thay đổi bên trong và bên ngoài. Vì vậy, quẻ số 13 (|:||||) Thiên Hỏa đồng nhân, bao gồm nội quái |:| (Ly hay Hỏa), liên kết với ngoại quái ||| (Càn/Trời).

Ý nghĩa của quẻ này người Trung Quốc và Việt Nam hiểu tương đối khác nhau. Người Trung Hoa hiểu theo nghĩa mối quan hệ của con người với đất đai còn người Việt hiểu theo nghĩa mối quan hệ tổng hòa của con người đối với vũ trụ nói chung. Trong trường hợp này kiến giải của người Việt mang tính triết học cao hơn.

Bát quái nạp vào Hà Đồ và 8 đường kinh nạp vào Hà Đồ theo tính chất ngũ hành tương ứng được minh hoạ như sau:


Chu kỳ dòng khí luân phiên trong 8 đường kinh.

Xem thêm những kiến giải của học giả Nguyễn Thiếu Dũng về Kinh Dịch
http://web.thanhnien.com.vn/Khoahoc/2005/4/4/80330.tno

Biểu đồ các quái

Ngoại quái
Nội quái
|||
Càn

Trời
|::
Chấn

Sấm
:|:
Khảm

Nước
::|
Cấn

Núi
:::
Khôn

Đất
:||
Tốn

Gió
|:|
Ly

Hỏa
||:
Đoài

Đầm

|||
Càn
1 34 5 26 11 9 14 43
|::
Chấn
25 51 3 27 24 42 21 17
:|:
Khảm
6 40 29 4 7 59 64 47
::|
Cấn
33 62 39 52 15 53 56 31
:::
Khôn
12 16 8 23 2 20 35 45
:||
Tốn
44 32 48 18 46 57 50 28
|:|
Ly
13 55 63 22 36 37 30 49
||:
Đoài
10 54 60 41 19 61 38 58

64 quẻ
Dưới đây là sáu mươi tư quẻ của Kinh Dịch.

Các quẻ từ số 01 đến số 30 được gọi là Thượng Kinh, bắt đầu với hai quẻ Càn (trời), Khôn (đất) nên phần này đôi khi gọi là “đạo của Trời Đất”.

Các quẻ từ số 31 đến số 64 được gọi là Hạ Kinh, bắt đầu với hai quẻ Hàm (tình yêu), Hằng (vợ chồng) nên phần này đôi khi gọi là “đạo của vợ chồng”.

|||||| Thuần Càn (乾 qián)
:::::: Thuần Khôn (坤 kūn)
|:::|: Thủy Lôi Truân (屯 chún)
:|:::| Sơn Thủy Mông (蒙 méng)
|||:|: Thủy Thiên Nhu (需 xū)
:|:||| Thiên Thủy Tụng (訟 sòng)
:|:::: Địa Thủy Sư (師 shī)
::::|: Thủy Địa Tỷ (比 bǐ)
|||:|| Phong Thiên Tiểu Súc (小畜 xiǎo chù)
||:||| Thiên Trạch Lý (履 lǚ)
|||::: Địa Thiên Thái (泰 tài)
:::||| Thiên Địa Bĩ (否 pǐ)
|:|||| Thiên Hỏa Đồng Nhân (同人 tóng rén)
||||:| Hỏa Thiên Đại Hữu (大有 dà yǒu)
::|::: Địa Sơn Khiêm (謙 qiān)
:::|:: Lôi Địa Dự (豫 yù)
|::||: Trạch Lôi Tùy (隨 suí)
:||::| Sơn Phong Cổ (蠱 gǔ)
||:::: Địa Trạch Lâm (臨 lín)
::::|| Phong Địa Quan (觀 guān)
|::|:| Hỏa Lôi Phệ Hạp (噬嗑 shì kè)
|:|::| Sơn Hỏa Bí (賁 bì)
:::::| Sơn Địa Bác (剝 bō)
|::::: Địa Lôi Phục (復 fù)
|::||| Thiên Lôi Vô Vọng (無妄 wú wàng)
|||::| Sơn Thiên Đại Súc (大畜 dà chù)
|::::| Sơn Lôi Di (頤 yí)
:||||: Trạch Phong Đại Quá (大過 dà guò)
:|::|: Thuần Khảm (坎 kǎn)
|:||:| Thuần Ly (離 lí)
::|||: Trạch Sơn Hàm (咸 xián)
:|||:: Lôi Phong Hằng (恆 héng)
::|||| Thiên Sơn Độn (遯 dùn)
||||:: Lôi Thiên Đại Tráng (大壯 dà zhuàng)
:::|:| Hỏa Địa Tấn (晉 jìn)
|:|::: Địa Hỏa Minh Di (明夷 míng yí)
|:|:|| Phong Hỏa Gia Nhân (家人 jiā rén)
||:|:| Hỏa Trạch Khuê (睽 kuí)
::|:|: Thủy Sơn Kiển (蹇 jiǎn)
:|:|:: Lôi Thủy Giải (解 xiè)
||:::| Sơn Trạch Tổn (損 sǔn)
|:::|| Phong Lôi Ích (益 yì)
|||||: Trạch Thiên Quải (夬 guài)
:||||| Thiên Phong Cấu (姤 gòu)
:::||: Trạch Địa Tụy (萃 cuì)
:||::: Địa Phong Thăng (升 shēng)
:|:||: Trạch Thủy Khốn (困 kùn)
:||:|: Thủy Phong Tỉnh (井 jǐng)
|:|||: Trạch Hỏa Cách (革 gé)
:|||:| Hỏa Phong Đỉnh (鼎 dǐng)
|::|:: Thuần Chấn (震 zhèn)
::|::| Thuần Cấn (艮 gèn)
::|:|| Phong Sơn Tiệm (漸 jiàn)
||:|:: Lôi Trạch Quy Muội (歸妹 guī mèi)
|:||:: Lôi Hỏa Phong (豐 fēng)
::||:| Hỏa Sơn Lữ (旅 lǚ)
:||:|| Thuần Tốn (巽 xùn)
||:||: Thuần Đoài (兌 duì)
:|::|| Phong Thủy Hoán (渙 huàn)
||::|: Thủy Trạch Tiết (節 jié)
||::|| Phong Trạch Trung Phu (中孚 zhōng fú)
::||:: Lôi Sơn Tiểu Quá (小過 xiǎo guò)
|:|:|: Thủy Hỏa Ký Tế (既濟 jì jì)
:|:|:| Hỏa Thủy Vị Tế (未濟 wèi jì)

Triết học

Sự phát triển của hình thức biểu diễn nhị phân dựa trên Âm và Dương (Thái Dương, Thái Âm; Thiếu Dương hay Thiếu Âm) là những nền tảng để quẻ được xây dựng nên từ đó. Âm và Dương có liên quan đến nhiều trường phái khác nhau của văn minh Trung Hoa cổ đại, đặc biệt là liên quan đến Lão giáo.

Một cách nhìn nhận khác cho rằng Kinh Dịch là những văn bản đạo đức hay triết học khởi thủy của đạo Khổng. Cách nhìn nhận này dựa trên các yếu tố sau:

Thập Dực hay các chú giải bổ sung là do Khổng Tử viết.
Việc nghiên cứu Kinh Dịch là một phần bắt buộc của các sĩ tử trước khi đi thi trong chế độ phong kiến. Các kỳ thi này chỉ hỏi về các tài liệu liên quan đến Khổng giáo.
Nó là một trong Ngũ Kinh của đạo Khổng.
Nó không xuất hiện trong bất kỳ thư tịch nào còn sót lại của Dao Zheng.

Phần lớn các chú giải chính được viết bởi những người theo Khổng giáo hay tân Khổng giáo.
Cả hai cách nhìn nhận này đã chứng minh rằng Kinh Dịch là nền tảng của các triết lý Trung Hoa, là nền tảng cho cả hai trường phái Khổng – Lão. Từng bị lãng quên khi đạo Phật phát triển ở Trung Quốc thời nhà Đường, Kinh Dịch đã nhận được nhiều sự chú ý hơn từ các trường phái trong thời kỳ nhà Tống. Nó đi kèm theo với sự đánh giá lại đạo Khổng bởi những người theo Khổng giáo trong sự kết hợp với các triết lý trừu tượng của đạo Lão và đạo Phật, và được biết đến ở phương Tây như là tân Khổng giáo. Kinh Dịch đã giúp cho các triết gia Khổng giáo thời Tống tổng hợp các thuyết vũ trụ học của đạo Lão và đạo Phật cùng với các luân lý của đạo Khổng và đạo Lão. Sản phẩm cuối cùng là một thuyết vũ trụ học mới, có thể liên quan đến cái gọi là “Đạo đã mất” của Khổng Tử và Mạnh Tử.

Bói toán

Kinh Dịch đã có một lịch sử lâu dài trong việc sử dụng để xem bói và có nhiều phương thức khác nhau để lấy và diễn giải một quẻ trong mối quan hệ tương hỗ của nó với những quẻ khác.

Bói toán bằng Kinh Dịch
Xem trang “Bói toán bằng Kinh Dịch”

Vài biểu trưng liên quan đến Kinh Dịch

Quốc kỳ Hàn Quốc

Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa

Quốc kỳ của Hàn Quốc có chứa Thái Cực đồ (được cho là nguồn gốc phát sinh vạn vật trong vũ trụ). Thái Cực đồ được bao quanh bởi bốn trong tám quái là Càn (Trời), Khôn (Đất), Ly (Lửa) và Khảm (Nước).

Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa có ba sọc đỏ nằm ngang trong đó sọc giữa đứt đoạn (cờ quẻ ly), đó là quẻ Ly tượng trưng cho phương nam. Sau này Việt Nam Cộng hòa dùng quốc kỳ có nối liền sọc giữa lại thành quẻ Càn (cờ vàng ba sọc đỏ).

Ảnh hưởng tới văn hóa châu Âu

Kinh Dịch có ảnh hưởng không giới hạn trong giới học giả Trung Quốc cũng như trong các hoạt động kinh tế – văn hóa, xã hội khác trong suốt lịch sử phát triển của dân tộc này. Người châu Âu biết đến Kinh Dịch tương đối muộn và sự hiểu biết về nó gần như còn rất sơ khai. Tuy nhiên gần đây một số văn, nghệ sĩ cũng như các ban nhạc châu Âu đã sử dụng nó trong các tác phẩm của mình như John Cage, Philip K. Dick, Dead Prez, George Harrison của nhóm Beatles v.v

Theo Bách khoa toàn thư, http://vi.wikipedia.org tiếng Việt

10 phản hồi tới “Kinh dịch”

  1. Ibvietnam đã nói

    Phần mềm để xem Kinh dịch và tìm hiểu về lý thuyết kinh dịch: http://ibvietnam.com/?p=280

  2. landn đã nói

    ông a còn trẻ mà cũng nghiên cứu cái món này…quả là hiếm ;))
    e cũng khoái cái môn này lắm…rất vui đc làm quen với pác :D

  3. kimcokynhan đã nói

    Trẻ gì mà trẻ nữa nữa em, nữa đời người rồi…

  4. de nghi đã nói

    đề nghị anh kimco không hiểu biết dịch lý không lên post bài linh tinh! làm ảnh hưởng đến tinh thần vốn vô tư của dịch lý!
    Nói qua!
    Dịch lý không phải của ai cả, cũng không ai viết lên, dịch lý vốn có sẵn trong tự nhiên có từ thửa khai thiên lập địa, còn từ đời này đến đời kia hay nước nọ đến nước kia cũng chỉ là quan điểm của họ để làm sáng tỏ thêm về dịch lý theo quan điểm của họ.
    do vậy có người giải thích được nguồn gốc của dịch lý hoặc có người giải thích không nổi:
    ví dụ: người trung hoa không giải thích được nguồn gốc của dịch lý liền gán cho cái tên huyền thoại , mu rùa long mã … cái này chỉ có trẻ con mới tin
    còn người việt nam ta: giải thích nguồn gốc của dịch lý dựa vào một nguyên lý luật, biến hóa luật của tự nhiên! có lý lẽ khoa học và khi chiêm nghiệm thì không thể sai được! gọi là vén khăn che mặt tạo hóa!
    Nếu ai cứ miêm man với cái mu rùa long mã thì không thể nào học nổi dịch, kiểu như người đi xem kịch mà thôi!
    xin đề nghị những ai không hiểu biết về dịch không lên post bài linh tinh

  5. kimcokynhan đã nói

    Cảm ơn bạn đã quan tâm đến bài này của tôi.

    Như trong bài, tôi có chú thích rõ là nguồn “Theo Bách khoa toàn thư, http://vi.wikipedia.org tiếng Việt”. Theo đánh giá có phần chủ quan của tôi, đây là một trang kiến thức rộng và mang tính học thuật, khách quan cao.

    Lâu nay tôi có theo dõi loạt bài “Nguồn gốc Kinh Dịch” trên báo Thanh niên, cũng rất thích thú và tâm đắc với những kiến giải mới mẻ được mạnh dạn đăn trên đó. Sau đó trên nhiều diễn đàn, tôi cũng thấy vấn đề này được tranh luận rất sôi nổi.

    Bạn có thể hiểu là bài của tôi chỉ mang tính chất gợi mở, làm rộng đường dư luận mà thôi. Tôi quả thật không đủ kiến thức để tranh cãi về nguồn gốc Dịch với bất kỳ ai, một phần vì tôi không thích làm cái việc đó.

    Nhất là, với comment của bạn, tôi càng không muốn tranh luận những vấn đề mà bạn đưa ra như: “người Trung Hoa không giải thích được nguồn gốc của dịch lý liền gán cho cái tên huyền thoại , mu rùa long mã … cái này chỉ có trẻ con mới tin”, theo thiển nghĩ của tôi, nhiều thế hệ người Việt Nam trước đây, kể cả vua chúa, các bậc đại hành gia học thuật có thể bị bạn ví là trẻ con đấy.

    Như đã nói, tôi vốn chỉ dụng tâm học Dịch ở cấp độ nông cạn; bài này, theo ý kiến của bạn là bài mang tính “linh tinh”, tôi cũng chịu vậy chứ không phản đối.

  6. de nghi đã nói

    Bạn thử nghĩ xem, Đất đá, cây cỏ, sông núi,… tất cả những thứ đó đều có tự nhiên, vậy thứ đấy là của ai?
    chỉ có ai sáng tạo ra mà thôi chứ bản chất không phải của ai cả!
    đá đập nhỏ, chế biến thành xi măng… làm bê tông chớ cái đó người phương tây sáng tạo và nghiên cứu ra, chứ đất đá của tự nhiên từ thửa khai thiên lập địa biến đổi nghìn nghìn năm mà có!
    dịch cũng vậy vốn có từ tự nhiên, làm sáng tỏ diễn giải thì ai cũng có thể làm! cái quan trọng cuối cùng nó cũng phải ứng dụng giống như bê tông làm nhà cho chúng ta!
    Nếu huyễn hoặc thì mãi trong u mê thôi bạn ạ! tôi cũng không bàn tới việc dịch lý là của ai, vì tôi biết rõ không phải của ai cả! có điều tôi được sáng tỏ bằng phương pháp của người việt nam và ứng dụng như những sáng kiến khác!
    Bạn rất yêu thích, nhưng nếu học theo trường phái nào thì cũng nên hiểu sâu xa và phải giải thích rõ ràng như 1+1 =2 có như vậy mới có thể xứng là khoa học!

  7. onghy đã nói

    Xem cho vui cac bac a
    Khong nen gay gat qua :)

  8. Cát Tường đã nói

    Nếu đọc cho vui thì ko gay gắt
    Nhưng nếu nói về học thuật thì fải gay gắt
    Vì sao? Vì man thư trong huyền học ( bao gồm Kinh Dịch ) cực nhiều,1 câu bất cẩn ngôn có thể làm người đời sau lao đao ko cách chi hiểu đâu là hướng đúng đắn. Thậm chí làm sai lệch hiểu biết của cả 1 thế hệ.

    Kinh Dịch vốn ko fải thứ để đọc cho vui vì nó chẳng có gì thú vị,toàn những từ cổ trong Thoán,Hệ Từ,truyện…. Đã vậy ý của cổ nhân gửi gắm vào câu chữ rất sâu xa,nếu ko hứng khởi với việc nghiên cứu hay có mục đích rõ ràng trong việc bói toán thì ko nên rớ vào Dịch.

    Nói về nguồn gốc,tại sao chúng ta ko nên suy xét rạch ròi vấn đề này. Vì có suy xét cũng ko bao giờ ra. Trừ khi có máy thời gian quay về thời cái ông nào hét lên ” ơreka,ta đã fát minh ra Kinh Dịch ” thì mới có thể kiểm chứng 1 cách chính xác được. Tôi đơn cử ngay như English,thời trẻ ngày nay mở mồm là xì xà xì xồ English nhưng đố ai biết anh khơi nguồn ra cái thứ ngôn ngữ quốc tế ấy? Có người bảo đươgn nhiên người Anh. Nhưng đích xác là ai? Ko biết. English đc bồi đắp theo thời gian,fát triển theo sự fát triển của con người nước Anh và bất cứ ngôn ngữ nào cũng thế. Kinh Dịch cũng vậy. Ngay như việc trc đó là Tiên Thiên và đến đời nhà Chu thì Văn Vương cho ra đời Hậu Thiên. Rồi còn Thoán,Hệ từ,Truyện do Khổng Tử và các học giả thêm thắt vào. Tức là ai cũng có công cả. Nói của ai cũng sai hết.

    Cát Tường.

  9. Tìm Tu Học đã nói

    Tôi chẳng mấy dịp tham gia bốc phệ , nên thường là kết quả đúng đúng sai sai , sai nhiều hơn đúng , nên nãn nhiều hơn . Cũng thích lý luận nên đọc được câu _ ai cũng có công của Cát Tường thì chịu quá vậy nói về dạng công thức chắc là hợp . Nghĩa là từ :

    Tự nhiên – Siêu tự nhiên – Siêu nhiên có đứng theo hàng như vầy không ? Hay vẫn có quy trình khác nữa . Ai mà ham luyện tập dịch pháp thì vẫn có thể mơ tưởng tới công thức gọn dễ nhớ dễ theo .Và biện luận theo lý – ( tình , sự … ) và chấp nhận sự rà soát nên , không nên – có lý ,vô lý – nữa , đừng nữa …

  10. dichhocsinh đã nói

    dichhocsinh@yahoo.com

Để lại hồi âm

XHTML: Bạn có thể sử dụng những thẻ sau: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <pre> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>